Hội nam y việt nam

Vietnamese traditional medicine Association

Nam Y

ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH XƯƠNG KHỚP BẰNG Y HỌC HIỆN ĐẠI VÀ Y HỌC CỔ TRUYỀN


                                                                                

I.CẤU TẠO CỦA XƯƠNG KHỚP

Cơ thể người,  xương gồm khoảng 200 cái và khoảng trên dưới 500 cơ khác nhau. Khung xương là nền tảng cho cơ thể thực hiện chức năng vận động. Nhưng nếu thiếu hệ cơ bắp chắc khỏe thì cơ thể không thể hoàn thành tốt được các động tác. Các cơ có vai trò giúp vận động di chuyển giữ được tư thế đúng kháng lại trọng lực tác động lên cơ thể. Vận động lại là một yếu tố quan trọng kích thích các tế bào liên kết lại với nhau để thực hiện các quá trình chuyển hóa tạo xương mới bỏ xương cũ.

A./ Cấu tạo xương thì có: chất hữu cơ, chất khoáng và các tế bào xương

Chất hữu cơ chiếm 28% đó là chất ossein chính là collagen của xương và chất hữu cơ làm nền.

Chất khoáng chiếm khoảng 72% chủ yếu là nước chiếm 50%, muối khoáng chứa các chất khoáng và calci xấp xỉ 20%. Chất hữu cơ quy định tính đàn hồi của xương và chất khoáng quyết định độ cứng của xương.

Dưới đây nói kỹ hơn về 3 chất trên: chất hữu cơ, tế bào tạo xương và chất khoáng

1./ Chất hữu cơ tạo cơ xương gồm: các sợi collagen có tính chất bền, dai và chắc, chất làm nền tạo sự kết dính và các tế bào xương (osteocyte). Nhóm chất hữu cơ này được cơ thể tổng hợp do sự điều khiển của gen ADN  trong cơ thể.

Các sợi collagen đàn hồi xoắn lại với nhau dày chắc thành dạng hình lò xo quanh trục đi qua phiến xương. Collagen có chức năng như các sợi thép trong bê tông liên kết các chất nền, các chất khoáng nhằm chịu lực giúp xương không gãy khi bị rung, chấn động.

+ Các chất hữu cơ làm nền như axid hyaluronic (tức là axid glycuronic và glucosamine) + chondrotyl sulfat và kerato sulfat…

2./Các tế bào xương thì gồm tế bào tạo xương, tế bào hủy xương và tế bào xương liên kết với nhau có chức năng kích hoạt tạo xương mới và hủy xương cũ. Các chất hữu cơ được sinh ra liên tục và thay đổi suốt trong thời kỳ cơ thể phát triển

3./ Đối với chất khoáng thì chủ yếu là calcium, phosphorus, magne, natrium, kalium và nhiều nhất là hydroxyapatite,.. Nhóm chất khoáng này được cung cấp qua các bữa ăn do có sẵn trong nhiêu loai thực phẩm như: rau, đậu, thịt, cá, sữa. Các chất khoáng có trong xương luôn dưới dạng tinh thể hình lục lăng, sắp xếp lại với nhau như các viên gạch của bức tường. Các chất khoáng liên kết với các chất keo xương có chức năng định hình dạng của xương và tăng cường sự cứng cáp của xương.

4./ Một điều quan trọng nữa là các calci tạo lên xương được điều tiết ở các hoocmon như hoocmon cận giáp trạng:  calcitriol hay 1,25D được sản sinh từ cholesteron kích thích ruột hấp thu calci và phospho. Calcitonin sản sinh ra từ tuyến giáp làm nhiệm vụ ức chế các tế bào hủy xương, kiểm soát nồng độ calci. Nội tiết tố estrogen sinh dục làm tăng mật độ xương. Các cytokine cũng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế của estrogen-xương. Các yếu tố tăng trưởng IL-1, IL-6 và TNF cũng tác động đến estrogen tạo xương và hủy xương. Vì thế trong điều trị loãng xương người ta chú ý đến bổ sung các nội tiết tố này.

B./ Về cấu tạo khớp

Khớp tức là nơi nối giữa hai đầu xương lại với nhau gồm có dây chằng, cơ bắp, gân, sụn, bao khớp (đấy là màng hoạt dịch bao bọc quanh khớp). Sụn khớp gồm tế bào sụn không có khả năng sinh sản và chỉ tái tạo sau tuổi trưởng thành. Chất căn bản có thành phần quan trọng nhất là collagen typ 2. Collagen typ 2 chiếm đến 90% sợi collagen các sợi căn bản của sụn khớp. Tuổi thọ con người càng được nâng cao thì tỉ lệ các bệnh xương khớp cũng càng trở nên phổ biến. Hệ xương khớp có 4 chức năng chính: vận động, nâng đỡ, bảo vệ những cơ quan quan trọng và tạo máu. (tức là nơi sản sinh ra các huyết cầu, hồng cầu, tiểu cầu ở trong tủy xương)

C./ Về dịch tể học

- Tại Việt Nam dân số vượt ngưỡng 90 triệu người và tuổi thọ trung bình đã đạt tới 72-73 tuổi cũng là một những thách thức cho việc điều trị căn bệnh này. Điều đấng nói là bệnh xương khớp thường gặp trước đây ở người cao tuổi thì hiện nay đang được trẻ hóa và gia tăng.

- Các bệnh về xương khớp: có thể kể ra một số bệnh chính như viêm xương khớp, thoái hóa khớp, thoát vị đĩa đệm, loãng xương, bệnh gout, bệnh thấp khớp,… dưới đây sẽ nói kỹ về 3 bệnh: bệnh thấp khớp, thoái hóa khớp và loãng xương là hay gặp nhất còn bệnh gout sẽ có bài sau.

II.BỆNH THẤP KHỚP

Bệnh thấp khớp nguyên nhân  là do bệnh tự miễn. Bệnh thấp khớp thường gây ra bệnh  tim mạch nên người ta gọi là bệnh thấp tim tức là bệnh “liếm khớp gặm tim”.

A./Triệu chứng của viêm khớp dạng thấp

- Biểu hiện sưng, nóng, đỏ,đau do viêm màng hoạt dịch của khớp. cứng khớp buổi sáng gây cử động khó khăn kèm theo đó là triệu chứng toàn thân như sốt,  mệt mỏi.

- Bệnh diễn biến từng đợt có hai giai đoạn. giai đoạn đầu thường kéo dài từ 1-3 năm. Giai đoạn sau do hậu quả của viêm màng hoạt dịch nên xuất hiện tổn thương ở sụn khớp và đầu xương ngày càng nặng làm cho các khớp hẹp lại và các đầu xương dính với nhau gây cứng khớp  và mất khả năng vận động. bệnh nặng đã gây nên sốt cao, chán ăn, gầy yếu, suy nhược.

B./Điều trị

-Theo Y học hiện đại:

+ Triệu chứng: sưng, nóng, đỏ,đau dùng thuốc kháng viêm loại Corticoid hoặc loại không phải Corticoid (diclophenac, piroxicam,…)

+ Điều trị thuốc chống thấp khớp như: methotrexate, sulfasalazine, thuốc ức chế miễn dịch như: TNF, cyclosporine A,… Những thuốc chống thấp khớp chỉ có thể làm ngưng sự tiến triển của bệnh chứ không thể tái tạo các tổn thương thực thể tại các khớp và sụn xương.

-Theo Y học cổ truyền

+ Thể dục đều, vật lý trị liệu, châm cứu xoa bóp và dùng thuốc đông y để: Khu phong, thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, lợi niệu, trị thấp,…

+ Dùng bài thuốc: Ngạnh mễ, Thổ phục linh, Đan sâm, Sinh Thạch cao, Phòng phong, Kế huyết đằng, Kim ngân hoa, Liên kiều, Bạch thược, Tang chi, Ý dĩ nhân, Thương truật, Ké đầu ngựa, Tri mẫu, Hy thiêm thảo chế, Hoàng bá, Quế chi, Cam thảo, Tỳ giải.

+ Nếu phòng tái phát thì dùng bài độc hoạt ký sinh thang gia giảm: Độc hoạt,Tang ký sinh,Thục địa, Đương quy,Bạch thược, Xuyên khung, Ngưu tất, Đỗ trọng, Hà thủ ô chế, Bạch linh, Thổ phục linh, Phòng phong, Nhục quế, Phụ tử chế, Đảng sâm, Tế tân,Tần giao, Chích Cam thảo.

 III.BỆNH THOÁI HÓA XƯƠNG KHỚP

Bệnh thoái hóa xương khớp là tình trạng tổn thương xương sụn và giảm thiểu chất lượng dịch khớp.

ở Mỹ 80% trên 55 tuổi là thoái hóa khớp. Ở Việt Nam thoái hóa khớp chiếm trên 10,5%

A./ Nguyên nhân

-Sự lão hóa: theo quy luật tự nhiên ở người trưởng thành khả năng sinh sản và tái tạo sụn giảm dần và hết hẳn. Các tế bào sụn với thời gian tích tụ lâu dần sẽ giàm khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi collagen và mucopolysaccharide. Do đó giảm sút và rối loạn, chất lượng sụn, tính chất đàn hồi và chịu lực cũng giảm.

- Yếu tố cơ giới: Là yếu tố thúc đẩy quá trình thoái hóa nhanh. Yếu tố cơ giới thể hiện ở sự tăng bất thường lực nén trên một đơn vị diện tích của mặt khớp hoặc đĩa đệm, là yếu tố chủ yếu trong thoái hóa khớp thứ phát, nó gồm: Các dị dạng bẩm sinh làm thay đổi diện tích tỳ nén bình thường của khớp và cột sống. Các biến dạng thứ phát sau chấn thương, viêm, u, loạn sản hay làm thay đổi hình thái, tương quan của khớp và cột sống. Sự tăng trọng quá tải: tăng cân quá mức do béo phì, do nghề nghiệp.

- Các yếu tố khác:

+ Di truyền: cơ địa già sớm.

+ Nội tiết: mãn kinh, tiểu đường, loãng xương do nội tiết, do thuốc.

+ Chuyển hóa: bệnh Gout

- Người ta có thể phân biệt hai loại thoái hóa khớp.

+ Nguyên phát: nguyên nhân chính là do sự lão hóa, xuất hiện muộn, thường ở người sau 60 tuổi, nhiều vị trí, tiến triển chậm, tăng dần theo tuổi.

+ Thứ phát: phần lớn là do nguyên nhân cơ giới, gặp ở mọi lứa tuổi (thường trẻ, dưới 40 tuổi) khu trú một vài vị trí nặng và phát triển nhanh.

B./Triệu chứng

- Đau: Đau ở vị trí khớp bị thoái hóa, đau tại chỗ ít khi lan (ngoại trừ ở cột sống khi có chèn ép rễ và dây thần kinh. Đau âm ỉ, ở cột sống có thể có cơn đau cấp. Đau thường xuất hiện và tăng khi vận động hay thay đổi tư thế. Thường xuất hiện từng đợt kéo dài rồi giảm và hết, sau đó lại xuất hiện đợt khác sau khi vận động nhiều. Đau nhiều có co cơ phản ứng.

- Hạn chế vận động: Các động tác của khớp bị thoái hóa có hạn chế, mức độ hạn chế không nhiều và có thể chỉ hạn chế một số động tác. Hạn chế động tácchủ động và thụ động. Do hạn chế vận động, cơ vùng thương tổn có thể bị teo. Một số bệnh nhân có dấu hiệu “phá rỉ khớp” vào buổi sáng hoặc lúc mới bắt đầu hoạt động.

+ Đối với khớp gối: đau khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi, hạn chế một số động tác (gấp, duỗi...) có tiếng lạo xạo khi vận động, khớp sưng ít, mọc gai lồi ra, có thể có nước, không có biểu hiện viêm (sưng, nóng, đỏ đau).

+ Đối với cột sống cổ, cột sống thắt lưng: đau khi vận động vùng cổ gáy, có thể có từng đợt đau cứng gáy, có dấu hiệu đau và tê cánh tay nếu có chèn ép đám rối thần kinh cánh tay, có dấu hiệu rối loạn tiền đình, nhức đầu. Nếu có chèn ép động mạch sống. Hư cột sống thắt lưng biểu hiện bằng đau và hạn chế vận động cột sống thắt lưng khi vận động, giảm rõ rệt sau khi nghỉ ngơi, đôi khi có dấu hiệu chèn ép dây thần kinh tọa.

- Biến dạng: Không biến dạng nhiều như ở các khớp khác (viêm khớp, gout). Biến dạng ở đây do các gai xương mọc thêm ở đầu xương, ở cột sống biến dạng hình thức gù, vẹo, cong, lõm.

- Các dấu hiệu khác: Teo cơ: do ít vận động. Tiếng lạo xạo khi vận động: ít giá trị vì có thể thấy ở người bình thường hoặc ở các bệnh khác. Tràn dịch khớp: đôi khi thấy ở khớp gối, do phản ứng xung huyết và tiết dịch ở màng hoạt dịch.

C./Điều trị

1. Các biện pháp không dùng thuốc: tránh cho khớp bị quá tải bởi vận động, và trọng lượng, giảm cân nếu thừa cân, có thể cần dùng nạng

2. Các biện pháp dùng thuốc:

a./ Theo y học hiện đại.

Chỉ định một số loại thuốc sau:

- Thuốc chống viêm không steroid:

+ Diclofenac (Voltaren) viên 50mg, 2 viên/ngày chia 2 lần.

+ Indomethacin (Indocid) viên 25mg 4-6 viên/ngày chia 2-3 lần.

+ Meloxicam (Mobic) viên 7,5mg, 1 viên/ngày.

- Các thuốc giảm đau: có thể chỉ định một số thuốc sau:

+ Paracetamol (Dolodol) - 3g/ngày

+ Paracetamol + Codein (Efferalgan Codein) 4-6 viên/ngày.

+ Floctafein (Idarac) viên 200mg, 6 viên/ngày, chia 3 lần

- Thuốc Corticoid:

+ Đường toàn thân: chống chỉ định

+ Đường nội khớp: không quá 3 đợt mỗi năm

+ Hydrocortison acetate mỗi đợt 2-3 mũi tiêm, cách nhau 5-7 ngày.

+ Diprospan (Bentamethasone dipropionate) tiêm 1 mũi duy nhất mỗi đợt.

- Thuốc chống thoái hóa khớp tác dụng chậm:

+ Glucosamine sulfat (Viarthril-S) gói 1,5g, viên 0,25 hoặc ống tiêm bắp, liều 1-1,5g/ngày.

+ Diacerein (Artrodar) 50mg, ngày 2 viên chia 2 lần.

- Bổ sung chất nhầy dịch khớp:

+ Acid hyaluronic (Hyruan, Go-on) ống 20mg, tiêm nội khớp mỗi tuần 1 ống, 5 lần mỗi đợt, hiệu quả kéo dài 6 tháng. (Theo sách HDTHĐT)

b./Theo y học cổ truyền

- Xoa nhẹ chỗ đau để giúp tăng cường tuần hoàn đến khớp.

-Nếu khớp gối, khớp lưng  thì nên dùng gậy giúp lực để đi lại dễ dàng

-Tập luyện vận động nhẹ từ từ để giãn dần giới hạn khớp do đau và tập cho linh hoạt các khớp bằng cách co duỗi, xoay, châm cứu tại chỗ và vùng lân cận.

-Có thể chườm ấm bệnh khớp đau bằng lá lốt gây đau xương, sao tẩm để xoa bóp

-Có thể xoa bóp bằng cồn hoặc dầu salicylate

Và chú ý dùng loại thuốc tứ diệu thang gia vị để thanh nhiệt giải độc dưỡng âm, ích can thận, khu phong, trừ thấp

- Bài thuốc: TỨ DIỆU THANG GIA VỊ Thương truật, Hoàng bá, Ngưu tất, Ý dĩ nhân, Đưng quy, Kim ngân hoa, Kê huyết đằng, Đỗ trọng, Bồ công anh, Liên kiều, Bông mã đề, Tri mẫu, Cam thảo, Xích thược, Hoạt thạch, Tục đoạn, Mộc qua, Bản lam căn, Tỳ giải, Thạch hộc

+ Kiêng kỵ: Cay nóng, sống, lạnh, béo ngọt quá mức, thịt gà, cà pháo, tôm, cua, ốc, hến, các chất kích thích.

- Có thể dùng bài thuốc đơn giản hơn:

-Độc hoạt 12g, ngưu tất 12g, phòng phong 12g, đỗ trọng 12g, quế chi 8g, tang ký sinh 12g, tế tân 8g, sinh địa 12g, tần giao 8g, bạch thược 12g, đương quy 8g, cam thảo 6g, đảng sâm 12g, phục linh 12g (cho vùng chi dưới)

-Khương hoạt 8g, phòng phong 8g, khương hoàng 12g, chính thảo 6g, đương quy 8g, xích thược 12g, gừng 4g, đại táo 12g, hoàng kỳ 12g (cho vùng chi trên)

IV. BỆNH LOÃNG XƯƠNG

1.Nguyên nhân của loãng xương (LX)                                                                                                         

Loãng xương còn gọi là thưa xương, xốp xương, là tình trạng giảm khối lượng xương, thường đi kèm với gãy xương, đặc biệt là lún các đốt sống. tuổi cao cùng với việc giảm nội tiết tố, ăn uống thiếu chất là nguyên nhân dẫn đến loãng xương.

Bộ xương của chúng ta cứng cáp được là nhờ có những chất khoáng, nhất là calci và phốt pho. Có 3 yếu tố cần cho  xương là: chế độ ăn đầy đủ calci và các chất khoáng khác, bảo đảm đủ vitamin D để giúp hấp thụ calci và nồng độ các chất nôi tiết tố có vai trò đối với sự phát triển của xương. Nếu thiếu các chất đó trong cơ thể sẽ dẫn đến loãng xương.

2. Các yếu tố nguy cơ của loãng xương.

Bệnh LX sẽ trở nên nặng nề hơn, sớm hơn, nhiều biến chứng hơn,… nếu người bệnh có thêm một hoặc các yếu tố sau đây:

+ Kém phát triển thể chất từ khi còn nhỏ, đặc biệt là còi xương, suy dinh dưỡng,chế độ ăn thiếu protid, thiếu calci hoặc tỉ lệ calci/phosphor trong chế độ ăn không hợp lý, thiếu vitamin D hoặc cơ thể không hấp thu được vitamin D, vì vậy khối lượng khoáng chất đỉnh của xương ở tuổi trưởng thành thấp, đây được coi là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh LX.

+ Ít hoạt động thể lực (hoạt động thể lực thường xuyên sẽ giúp cho cơ thể đạt được khối lượng xương cao nhất lúc trưởng thành), ít hoạt động ngoài trời (các tiền vitamin D nên ảnh hưởng đến việc hấp thụ calci).

+ Sinh đẻ nhiều lần lần,nuối con bằng sữa mẹ mà không ăn uống đủ chất đặc biệt là protid và calci để bù đắp lại.

+ Bị các bệnh mãn tính đường tiêu hóa (dạ dày, ruột,…) làm hạn chế hấp thu calci, vitamin D, protid,..

+ Có thói quen sử dụng nhiều rượu bia,cà phê, thuốc lá,.. làm tăng thải calci qua đường thận và làm giảm hấp thu calci ở đường tiêu hóa.

+ Thiểu năng các tuyến sinh dục nam và nữ (suy buồng trứng sớm và mãn kinh sớm,cắt buồng trứng, thiểu năng tinh hoàn,…)

+ Bất động quá lâu ngày do bệnh tật (chấn thương cột sống,phải chấn động), do nghề nghiệp(những người du hành vũ trụ khi tàu vũ trụ đi ngoài không gian) vì khi bất động lâu ngày các tế bào hũy xương tăng hoạt tính.

+ Bị các bệnh nội tiết: cường tuyến giáp, cường tuyến cận giáp,cường tuyến vỏ thượng thận, tiểu đường,..

+ Bị bệnh suy thận mãn hoặc phải chạy thận nhân tạo lâu ngày gây rối loạn chuyển hóa và mất calci qua đường tiết niệu.

+Mắc các bệnh xương khớp mãn tính khác đặc biệt là viên khớp dạng thấp và thoái hóa khớp.

+ Phải sử dụng dài hạn một số thuốc: chống động kinh,thuốc chữa bệnh tiểu đường(insulin), thuốc chống  đông (heparin) và đặc biệt là các thuốc kháng viêm nhóm corticosteroid (corticosteroid một mặt ức chế quá trình tạo xương, mặt khác làm giảm hấp thu calci ở ruột, tăng bài xuất calci ở thận và làm tăng quá trình hũy xương).

3.Triệu chứng

Đau mỏi mơ hồ ở cột sống, đau dọc các xương dài (đặc biệt xương cẳng chân),đau mỏi cơ bắp, ớn lạnh hay bị chuột rút (vọp bẻ) các cơ,…

+ Đau thực sự cột sống, đau lan theo khoang liên sườn, đau khi ngồi lâu, khi thay đổi tư thế. Có thể đau mạn tính hoặc cấp tính sau chấn thương (gãy xương cổ tay, gãy lún đốt sống, gãy cổ xương đùi,…)

+ Đầy bụng chậm tiêu,nặng ngực khó thở.

+ Gù lưng, giảm chiều cao.

Tuy nhiên loãng xương là bệnh diễn biến âm thầm, người ta ví bệnh giống như một tên ăn cắp thầm lặng, hàng ngày cứ lấy dần calci trong ngân hàng dự trữ xương của cơ thể con người.khi có dấu hiệu lâm sàng, thường là lúc đã có biến chứng, cơ thể đã bị mất tới 30% khối lượng xương.

-Biến chứng loãng xương:

+ Đau kéo dài do chèn ép thần kinh

+ Gù vẹo cột sống, biến dạng lồng ngực,…

+ Gãy xương cổ tay, gãy lún đốt sống, gãy cổ xương đùi                                                                             +Giảm khả năng vận động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người có tuổi.

4.Điều trị loãng xương theo Y học hiện đại

a.Dùng các loại thuốc sau đây:

+ Bisphosphonate+ calci và vitamin D.

+ Calcitonin+ calci và vitamin D

+ Hormone thay thế+ calci và vitamin D

b. kết hợp các thuốc chống hũy xương và thuốc tăng tạo xương

+ Isphosphonate+ hormone thay thế + calci và vitamin D

+ Calcitonin + hormone thay thế + calci và vitamin D

+ Bisphosphonate + calcitonin+ hormone thay thế + calci và vitamin D

5./ Điều trị loãng xương theo Y học cổ truyền

Y học cổ truyền quan niệm bệnh loãng xương là do sự mất cân bằng hai quá trình đối lập nhau: âm (tức là gây ức chế), dương (tức là do hưng phấn). sự mất cân bằng đó là sự tạo xương ít và hủy xương nhiều, do đồng hóa kém và dị hóa nhiều. Trong y học cổ truyền bệnh loãng xương liên quan đến tý (đau nhức cơ khớp xương) và yêu thống (đau mỏi ở lưng). Điều trị theo y học hiện đại đã cải thiện được mật độ xương, hạn chế gãy xương và tránh tàn phế .Nhưng không phải mọi người đều dung nạp với thuốc mà phải bổ dưỡng điều trị nên người ta dùng đến cây cỏ của thuốc đông y như: cây cẩu tích có tác dụng giảm đau trong bệnh xương khớp tăng thời gian liền xương, cây đái bổ tăng độ bền xương và tăng mật độ xương, cây cỏ mực giàu tritecpenoid có tác dụng ngăn tình trạng giảm mất xương và tăng cải thiện cấu trúc xương.

-Bài thuốc lục vị nổi tiếng dùng trong điều trị loãng xương có hiệu quả, hay bài thuốc cơ xương khớp của Đaifarm cũng có tác dụng rất tốt đối với bệnh cơ xương khớp nói chung và loãng xương nói riêng như sau:  cầu tích, thương truật, độc hoạt, khương hoạt, quế, mã tiền chế, ma hoàng,cam thảo, thiên niên kiện, ngưu tất, nhũ hương, mộc qua, mộc dược, phòng phong, đỗ trọng, đương quy, quy bản, đại hồi, tục đoạn, ba kích,…

- Bên cạnh bài thuốc dùng dược thảo để làm lưu thông máu, nuôi dưỡng vùng xương cơ, dây chằng, đầu gan và giảm đau thì dùng châm cứu xoa bóp. Bấm  huyệt để tăng tiết chất morphin nội sinh (endorphin) tại các huyệt thận du, mạnh môn, dũng tuyền.

- Chườm nóng đắp lá thuốc nhờ vào tác dụng của nhiệt và các hoạt chất có trong viên thuốc giúp kháng viêm giảm đau, các vị thuốc đắp thường là ngãi cứu, lá lốt, muối hột.

- Có thể dùng vật lý trị liệu.

- Vận động thể dục hợp lý, tránh mang vật nặng.

- Ngoài thuốc men và vận động thì chế độ dinh dưỡng cũng rất quan trọng tốt nhât là thực hiện chế độ dinh dưỡng thực phẩm thực vật toàn phần (rau, củ, quả và ngủ cốc nguyên hạt trong thời gian trị bệnh, bổ sung thêm vitamin D và vitamin B1, B6, B12.

 

- Tóm lại theo GS. Ban các bệnh xương khớp nói chung, nên điều trị theo 4 hướng:

+Bệnh cấp thì dùng thuốc tây Y một thời gian

+ Khi bệnh đã đỡ đi thì điều trị theo hướng đông Y, tức là dùng những bài thuốc đã nói ở trên tùy theo từng loại bệnh

+Kết hợp xoa bóp châm cứu, vật lý trị liệu, thể dục liệu pháp.

+ Trong lúc điều trị thuốc tây và đông Y thì chú ý dinh dưỡng cân bằng-tốt nhất là dùng thực phẩm thực vật toàn phần (rau, củ, quả, ngũ cốc nguyên hạt) để bổ sung vitamin và khoáng chất.

Oval: 2 
Các bài thuốc thảo dược trị bệnh xương khớp khi bệnh tạm lui
Dưới đây là tóm tắt sơ đồ của Gs. Ban trong các bệnh xương khớp:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Những tài liệu tham khảo chính :

1./ Đái Duy Ban- Phòng và điều trị một số bệnh mãn tính bằng đông tây y kết hợp. (chuẩn bị xuất bản)

2./ BS.Lê Anh Sơn- Bệnh khớp gout & cách điều trị NXB thời đại năm 2014

3./ Trần Văn Năm - Điều trị bệnh loãng xương kết hợp Y học hiện đại và Y học cổ truyền  NXB phụ nữ  năm 2017

4./ Đái Duy Ban, Nguyễn Hồng Xiêm và Bùi Đắc Sáng -Cẩm nang chăm sóc sức khỏe cộng đồng bằng y học hiện đại và y học cổ truyền quyển 2 NXB Y học năm 2016

                                                                                        VS.GS.TSKH. ĐÁI DUY BAN

Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam

 

Để lại một bình luận

Thông tin phản hồi (0)